Đây là những điều mà chính tôi đã được nghe hồi Bụt cư trú tại ngôi nhà khách ở trong một khu rừng thuộc tụ lạc Na Lợi. Lúc ấy có tôn giả Tản Đà Ca Chiên Diên đến thăm người. Sau khi đảnh lễ dưới chân Bụt, đại đức lui về một bên, ngồi xuống và bạch:
Tản Đà Ca Chiên Diên hỏi:Thế Tôn, Thế Tôn thường nói tới danh từ chánh kiến. Vậy chánh kiến là gì? Thế Tôn diễn giải về chánh kiến như thế nào?
Đức Bụt đáp:Người đời thường nghiêng về hai khuynh hướng nhận thức: một là có, hai là không. Đó là do vướng mắc vào tri giác sai lầm của mình. Vì vướng vào tri giác sai lầm cho nên mới kẹt vào hoặc ý niệm có hoặc ý niệm không.
Tán Đà Ca Chiên Diên! Phần lớn người đời đều bị kẹt vào chấp và thủ. Người không bị kẹt vào chấp và thủ thì không còn nắm giữ, kế đạt và vọng tưởng về cái ngã nữa. Người ấy biết cái khổ khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi hết điều kiện tồn tại thì nó tiêu diệt. Người ấy không còn nghi hoặc gì nữa cả.
Cái thấy của người ấy không do bị ảnh hưởng của kẻ khác mà có, trái lại do chính người ấy tự đạt được. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến.— Đức Bụt Thích Ca Mâu Ni · Tạp A Hàm 301
Đó là cách trình bày chánh kiến của Như Lai. Vì sao thế? Người có tri kiến chân chính khi quán sát về sự sinh khởi của thế gian thì không thấy thế gian là không. Người có tri kiến chân chính thì khi quán sát về sự hoại diệt của thế gian thì không thấy thế gian là có.
Tán Đà Ca Chiên Diên! Chấp có là một biên kiến, chấp không là một biên kiến khác; Như Lai lìa hai biên kiến đó mà thuyết pháp ở trung đạo.
Lý Thuyết Duyên Sinh
Nghĩa là: Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh. Mười hai mắt xích nhân duyên vận hành theo hai chiều — chiều sinh khởi dẫn đến khổ đau chồng chất, và chiều đoạn diệt dẫn đến giải thoát hoàn toàn:
| # | Chiều Sinh Khởi (Khổ) | Chiều Đoạn Diệt (Giải Thoát) |
|---|---|---|
| 01 | Vô Minh → Hành sinh | Vô Minh diệt → Hành không còn |
| 02 | Hành → Thức sinh | Hành diệt → Thức không còn |
| 03 | Thức → Danh Sắc sinh | Thức diệt → Danh Sắc không còn |
| 04 | Danh Sắc → Lục Nhập sinh | Danh Sắc diệt → Lục Nhập không còn |
| 05 | Lục Nhập → Xúc sinh | Lục Nhập diệt → Xúc không còn |
| 06 | Xúc → Thọ sinh | Xúc diệt → Thọ không còn |
| 07 | Thọ → Ái sinh | Thọ diệt → Ái không còn |
| 08 | Ái → Thủ sinh | Ái diệt → Thủ không còn |
| 09 | Thủ → Hữu sinh | Thủ diệt → Hữu không còn |
| 10 | Hữu → Sinh sinh | Hữu diệt → Sinh không còn |
| 11 | Sinh → Lão Tử sinh | Sinh diệt → Lão Tử không còn |
| 12 | và nguyên khối khổ đau chồng chất phát sinh / bị tiêu diệt | |
Bụt nói kinh này xong, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên thấy tâm bừng sáng giải thoát, cắt đứt được các hệ lụy, và chứng quả A La Hán.
Kinh Trung Đạo Nhân Duyên: Kinh này dịch từ kinh số 301 trong bộ Tạp A Hàm của tạng Hán. Tạp A Hàm là kinh số 99 của tạng kinh Đại Chính. Kinh này nói về tri kiến chân chính vượt thoát các ý niệm có và không và xác nhận tính duyên sinh của vạn pháp. Ta có thể tham khảo thêm kinh Kaccayanagotta của tạng Pali, trong Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikāya II, 16–17).